Web links

Civil advisory
Criminal advisory
Business advisory
Advisory Skype Me!

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Giám hộ đương nhiên không cần quyết định
Đó là ý kiến của rất nhiều chuyên gia pháp luật sau bài “Kẹt thừa kế do thiếu quyết định giám hộ đương nhiên” (Pháp Luật TP.HCM ngày 7-5).

 

Theo bài báo trên, ông H. (quận 4, TP.HCM) đã chưa được Phòng Công chứng số 1, TP.HCM công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế do người cha chết để lại. Lý do là ông có người anh bị tâm thần, tức thuộc diện được thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc nên là người đồng thừa kế với ông. Tuy nhiên, mẹ ông (là người giám hộ đương nhiên của người con trai nêu trên) không có quyết định công nhận giám hộ của UBND phường.

Luật sư Trịnh Thị Bích (Đoàn Luật sư TP.HCM), nguyên Trưởng phòng Hộ tịch-Quốc tịch-Lý lịch tư pháp Sở Tư pháp TP.HCM, lưu ý: Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Có hai loại giám hộ là giám hộ đương nhiên (áp dụng cho trường hợp có thân nhân theo các thứ tự quy định) và giám hộ cử (áp dụng cho trường hợp không có giám hộ đương nhiên và UBND phường phải cử người giám hộ). Vì thế, Nghị định 158/2005 của Chính phủ mới quy định việc UBND cấp xã ra quyết định đối với trường hợp cử người giám hộ (còn đối với trường hợp giám hộ đương nhiên thì không cần có quyết định).

Làm thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế tại TP.HCM. Ảnh: HTD

Cụ thể hơn, theo khoản 3 Điều 62 Bộ luật Dân sự, nếu người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con (hoặc có mà họ đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ) thì cha, mẹ là người giám hộ đương nhiên. Như vậy, khi anh của ông H. không có vợ, con và cha đã mất thì chỉ có mỗi người mẹ là người giám hộ đương nhiên. Chính vì sự duy nhất này mà khả năng phát sinh tranh chấp về người làm người giám hộ đương nhiên là hoàn toàn không có. Theo đó, công chứng viên (CCV) chỉ cần căn cứ vào quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của tòa, giấy khai sinh của người con, giấy khai tử của người cha là có thể giải quyết được rồi. Đã vậy, UBND phường còn linh động ra văn bản xác nhận người mẹ làm giám hộ đương nhiên cho con nên không còn gì phải băn khoăn.

Đồng thuận, đại diện Phòng Công chứng số 6, TP.HCM cũng cho biết lâu nay CCV phòng này chỉ yêu cầu người dân bổ sung quyết định đối với trường hợp giám hộ cử. Đối với giám hộ đương nhiên, các CCV chủ động căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự để thực hiện.

Ví dụ: Vợ, chồng làm giám hộ cho nhau thì cần phải có giấy chứng nhận kết hôn; cha, mẹ, con làm giám hộ cho nhau thì cần phải có các loại giấy tờ chứng minh được quan hệ như giấy khai sinh, hộ khẩu… Trường hợp cả hai người hoặc nhiều người có thể làm giám hộ đương nhiên như cha, mẹ làm giám hộ cho con thì CCV sẽ mời cả hai đến để thỏa thuận người nào đứng ra làm giám hộ cho con hoặc cả hai người đều làm người giám hộ.

Đại diện Phòng Công chứng số 7 nêu: khi pháp luật hiện hành không có quy định về việc UBND cấp xã phải ra quyết định về giám hộ đương nhiên thì việc yêu cầu người dân và UBND cấp xã phải có quyết định này là đẩy họ vào thế kẹt.

Ông PHAN VĂN CHEO, Chủ tịch Hội Công chứng TP.HCM:

Quy định đã rõ, không nên đòi hỏi thêm

Bài báo "Kẹt thừa kế do thiếu quyết định giám hộ đương nhiên” có trích dẫn Điều 29 Nghị định 158/2005 để từ đó cho rằng quy định này chỉ nói chung là đăng ký giám hộ chứ không nói là giám hộ đương nhiên hay giám hộ cử nên dẫn đến hai cách hiểu khác nhau. Theo tôi, nói vậy là không đúng bởi các quy định về giám hộ đương nhiên đã rất rõ (nhất là trong trường hợp cụ thể nêu trong bài), vấn đề là phải hiểu đúng để thực hiện cho đúng.

Rõ mười mươi hai điều 29, 30 của nghị định trên là dành cho giám hộ cử. Bởi lẽ theo Điều 63 Bộ luật Dân sự thì cử là chọn ra trong số nhiều người có điều kiện làm người giám hộ (những người này không phải là thân nhân thuộc diện ưu tiên của người được giám hộ) đảm nhận việc giám hộ và vì thế cần phải đăng ký, ra quyết định công nhận. Ngược lại, đối với giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự thì người giám hộ nhất thiết là người thân và rất dễ dàng xác định theo thứ tự, người này không có thì mới tới người kia và không thể có sự thay thế. Chẳng hạn, đối với vợ thì chồng là người giám hộ; đối với người chưa có vợ/chồng thì cha, mẹ là người giám hộ. Do vậy, khi đã là đương nhiên thì không cần phải có quyết định công nhận.

Vì lẽ này, tôi đồng tình với các ý kiến cho rằng các CCV chỉ cần xem xét các giấy tờ chứng minh mối quan hệ là có thể giải quyết hồ sơ. Trường hợp có nhiều người giám hộ đương nhiên mà CCV chưa rõ thứ bậc (như đối với trường hợp cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự thì con cả là người giám hộ… nhưng CCV chưa rõ ai là con cả) thì CCV có thể đề nghị các anh chị em của người được giám hộ làm văn bản thỏa thuận để người anh cả làm giám hộ…).

KIM PHỤNG

 

Add comment


Security code
Refresh

Tin mới nhất