Web links

Civil advisory
Criminal advisory
Business advisory
Advisory Skype Me!

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
ĐẶC TRƯNG CỦA QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Ngày nay ở nước ta quyền sở hữu trí tuệ nói chung hay quyền sở hữu công nghiệp nói riêng không còn xa lạ trong đời sống hàng ngày thông qua các hoạt động của đời sống từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh, giải trí, tinh thần học tập ... Tuy nhiên, để nhận thức được đúng đắn quyền sở hữu trí tuệ nói chung hay quyền sở hữu công nghiệp nói riêng lại cần phải nghiên cứu thật kỹ lượng những vấn đề lý luận cũng như thực tiền pháp luật. Nội dung bài viết này chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu “đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp” nhằm mục đích nâng cao nhận thức, nắm rõ hơn nữa về phương diện khoa học pháp lý đối với vấn đề đặt ra.


I. Khái niệm, đặc trưng quyền sở hữu trí tuệ

Trước khi tìm hiểu về các đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp, chúng ta tìm hiểu các quy định chung nhất về quyền sở hữu trí tuệ dưới đây:

1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ:

Quyền sở hữu trí tuệ là một chế định pháp luật bao gồm bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng và định đoạt các tài sản do lao động trí tuệ tạo ra.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 4, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bổ sung năm 2009 - sau đây gọi tắt là Luật SHTT) thì:

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”

Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự cụ thể của chủ thể đối với quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu với tài sản vô hình (hiểu biết, trí tuệ, uy tín, kinh doanh) được pháp luật quy định và bảo hộ.

Tuy nhiên cần phải hiểu thêm rằng, không phải mọi sản phẩm thành quả của hoạt động trí tuệ đều được bảo hộ, chẳng hạn như một bài báo chính luận có tính chất bình luận vấn đề thời sự trên trang nhất Báo Tuổi trẻ TP HCM không được coi là đối tượng của sở hữu trí tuệ; Không phải mọi quyền sở hữu trí tuệ đều là sản phẩm của trí tuệ như chỉ dẫn (địa lý) nước mắm Phú Quốc. Bản thân địa danh Phú Quốc không phải là sản phẩm trí tuệ, nhưng nó lại được bảo hộ như một quyền sở hữu trí tuệ.

1.2. Đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ

a) Sở hữu một tài sản vô hình: Tài sản vô hình là tất cả những gì không chạm vào được nhưng lại có thể mang lại giá trị thặng dự được tính thành tiền. Những công ty lớn, những tập đoàn lớn tài sản giá trị nhất của họ không hẳn là tài sản hữu hình. Tài sản vô hình tạo ra giá trị không phải nhờ vào các giá trị “thuộc tính vật chất” mà nhờ vào “nội dung trí tuệ”.

b) Quyền sử dụng là quyền quan trọng nhất: Thông thường thì quyền sử dụng là quyền quan trọng nhất đối với tài sản sở hữu trí tuệ. Tài sản vô hình (sản phẩm trí tuệ) nào được một người sử dụng sẽ không làm thuyên giảm tính tác dụng của nó đối với những người khác. Đối với 1 sản phẩm loại này thì càng nhiều sử dụng thì phúc lợi xã hội càng lớn (ví dụ như: công thức của thuốc chữa bệnh).

Đối với sở hữu thông thường, chủ sở hữu có đủ ba quyền: quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Trong khi đó, quyền sở hữu trí tuệ không quy định gì về quyền chiếm hữu. Điều đó cũng phát sinh từ đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ.

c) Quyền sở hữu bị giới hạn bởi quốc gia bảo hộ và thời hạn bảo hộ.

d) Chủ thể có quyền nhân thân và quyền tài sản. Điểm này chỉ rõ quyền sở hữu trí tuệ là một trong những quyền dân sự.

đ) Độc quyền sử dụng. Độc quyền khai thác thương mại đối với sản phẩm trí tuệ được bảo hộ nhằm thu hồi và bù đắp cho những chi phí đã đầu tư để tạo ra những sản phẩm trí tuệ đó, đây là lẽ công bằng và mang tính hiển nhiên.

II. Đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp

2.1 Khái niệm

Quyền sở hữu công nghiệp là một chế định pháp luật bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo, sử dụng, định đoạt các sản phẩm do lao động trí tuệ làm ra trong lĩnh vực công nghiệp.

Theo quy định tại khoản 4, Điều 4, Luật SHTT thì: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.”

Ngoài ra, liên quan đến vấn đề nghiên cứu chúng ta có thể xem qua các khái niệm dưới đây:

- Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.

- Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

- Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm, trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử. Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử.

- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn.

- Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

- Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

- Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.

- Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.

2.2 Đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là một phần của quyền sở hữu trí tuệ nên quyền sở hữu công nghiệp mang các đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ đã nêu ở trên. Ngoài ra, trong sự so sánh với quyền tác giả thì quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng cơ bản dưới đây:

Thứ nhất, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ về nội dung, khác với quyền tác giả là bảo hộ về mặt hình thức.

Thứ hai, hầu hết các đối tượng được bảo phải dựa trên trên cơ sở việc cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khác với quyền tác giả là quyền tự nhiên, xuất hiện khi tác giả sáng tác, làm ra tác phẩm, không nhất thiết phải có văn bằng.

Thứ ba, hầu hết các đối tượng được bảo hộ với giới hạn về không gian và thời gian. Trong đó, thời gian sở hữu công nghiệp ngắn hơn so với quyền tác giả.

Thời hạn của văn bằng bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp được duy trì trong một thời hạn nhất định (Điều 94 - Luật SHTT) hết thời hạn đó thì tư cách chủ sở hữu của quyền sở hữu công nghiệp sẽ chấm dứt.

Ví dụ 1: Cà phê Trung nguyên được bảo hộ độc quyền tại Việt nam nhưng khi xuất khẩu sang Nhật Bản thì không được bảo hộ vì đã có người đăng ký nhãn hiệu trước tại Nhật Bản.

Ví dụ 2: Đối với nhãn hiệu hàng hóa, thời hạn bảo hộ là mười năm kể từ ngày cấp chứng chỉ nhãn hiệu hàng hóa. Hoặc việc sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nhưng đã hết thời hạn bảo hộ được coi là hành vi hợp pháp. Khác với Quyền tác giả như họ tên đối với tác phẩm là vĩnh viễn.

Ngoài đặc điểm, Quyền sở hữu công nghiệp thể hiện những đặc trưng thương mại sau đây:

- Các đối tượng SHCN là một trong những yếu tố cấu thành hàng hoá, dịch vụ. Quyền sở công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Do đó ta nhận thấy các đối tượng trên đều mang tính chất hàng hóa, phục vụ quá trình kinh doanh để tạo ra lợi nhuận.

- Các đối tượng SHCN – tài sản trí tuệ được ứng dụng trong hoạt động kinh tế - thương mại. Tài sản này là kết quả của sự hoạt động trí tuệ hoặc do những điều kiện thiên nhiên và quá trình lao động tạo thành (chỉ dẫn địa lý) và được ứng dụng trong thương mại.

Các đối tượng SHCN là một loại “tài sản đặc biệt". Hiện nay, trong danh sách 100 thương hiệu mạnh nhất thế giới năm 2002 do Tuần báo Buiness Week (Hoa Kỳ) công bố, nhãn hiệu Coca - Cola được định giá tới 69,6 tỷ USD, Microsoft 64 tỷ USD, IBM 51,1 tỷ USD, GE 41,3 tỷ USD, Intel 30,8 tỷ USD, Nokia 29,9 tỷ USD. Còn đối với một số sản phẩm có tên tuổi của Việt Nam, như nhãn hiệu kem đánh răng P/S được chuyển nhượng với giá 7,5 triệu USD, kem đánh răng Dạ Lan 2,5 triệu USD. Với giá trị kinh tế to lớn, các đối tượng SHCN được sử dụng làm vốn góp trong công ty, làm tài sản thế chấp vay vốn, có thể cho thuê, chuyển nhượng quyền sở hữu, hoặc dùng để định giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và các giao dich thương mại khác.

 

Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp có thể bị lạm dụng để cản trở thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế. Quyền SHCN là độc quyền của chủ sở hữu, do đó đây là một ngoại lệ của nguyên tắc tự do kinh doanh. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc tự do cạnh tranh và tự do hoá thương mại.

Như vậy, có thể nói rằng ngoài những đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền sở hữu công nghiệp còn có những đặc trưng rất riêng như đã phân tích ở trên. Việc nắm được những đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về phương diện lý luận đối với vấn đề sở hữu công nghiệp, và qua đó nhận thức đúng hơn vai trò, vị trí của quyền sở hữu công nghiệp trong thực tế đời sống hiện nay.

 

HOÀNG THỊ THANH NGUYỆT - theo Bản tin trường Cao Đẳng Thương Mại Đà Nẵng

 

 

Add comment


Security code
Refresh

Tin mới nhất