Liên kết website

Tư vấn dân sự
Tư vấn hình sự
Tư vấn doanh nghiệp
Tư vấn Skype Me!

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Nên có quy định cụ thể về nguồn chứng cứ bằng hình thức “ghi âm”, “ghi hình”?

Công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của Nhà nước cũng như các cấp Bộ ngành và toàn xã hội. Quá trình điều tra và xử lý tội phạm là hai mặt của nhiều vấn đề, mà giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân và toàn xã hội.

 

Thực tế hiện nay đã và đang xảy ra rất nhiều vụ án hình sự có tính chất phức tạp, có tổ chức chặt chẽ, có tính đồng phạm cao, có sự móc nối liên hệ phạm tội bằng các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại…đã và đang gây không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Mặc dù hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự đã có qui định: Khi có vụ án hình sự xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng hình sự phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để chứng minh sự thật của vụ án, qua đó xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án đúng đắn (Điều 10 BLTTHS năm 2003). Tuy nhiên,  “việc áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án” còn quy định một cách chung chung về “nguồn chứng cứ” và “chứng cứ” nên trong quá trình điều tra, truy tố tội phạm có những nguồn chứng cứ đôi khi rất quan trọng, nhưng lại không được ghi nhận một cách cụ thể. Ví dụ: đoạn băng ghi âm một cuộc trao đổi, bàn bạc phương án phạm tội của một nhóm tội phạm trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (đoạn băng ghi âm này do một nhân chứng cung cấp với cơ quan tiến hành tố tụng). Chính từ nguồn chứng cứ bằng “ghi âm” này sẽ làm một căn cứ pháp lý đặc biệt quan trọng, giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nhưng những nguồn chứng cứ bằng “ghi âm” được coi là rất quan trọng này lại chưa được ghi nhận và sử dụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án.

 

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự chưa có một khái niệm cụ thể nào về thu thập chứng cứ. Tuy nhiên khi đi tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều các tài liệu, cũng như thông qua nhiều điều luật khác nhau có liên quan, qua đó chúng tôi nhận ra rằng thu thập chứng cứ là một giai đoạn của quá trình chứng minh. Chính là việc thu thập các dữ liệu thực tế đã xảy ra tại hiện trường gây án, hoặc có liên quan có chứa đựng nguồn chứng cứ do BLTTHS năm 2003 quy định, có nghĩa là chứng cứ phải được thu thập bởi các cơ quan tiến hành tố tụng do BLTTHS quy định, được quy định cụ thể tại Điều 65 BLTTHS. Đồng thời, tại Điều 75 BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể về vấn đề thu thập và bảo quản vật chứng, theo đó vật chứng cần được thu thập và bảo quản kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì có thể chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không mất mát, lẫn lộn và hư hỏng…; Ngoài việc thu thập chứng cứ từ vật chứng thì việc thu thập chứng cứ là lời khai của người bị tạm giữ, tạm giam, của bị can, bị cáo và những người có liên quan biết về các tình tiết của vụ án cũng có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc điều tra, truy tố và xét xử…Tuy nhiên, để các lời khai này có giá trị chứng minh trong vụ án thì việc thu thập, hoặc lấy lời khai phải hợp pháp. Đồng thời không phải lời khai nhận của bị can, bị cáo lúc nào cũng trở thành nguồn chứng cứ. Nó chỉ trở thành nguồn chứng cứ nếu được thu thập một cách hợp pháp, phải ánh đúng sự việc khách quan và phù hợp với các tình tiết, chứng cứ khác của vụ án. Bởi vì, trên thực tế có nhiều bị can, bị cáo nhận tội nhằm mục địch che giấu một tội phạm khác, quyết tâm không khai báo đồng phạm đã thực hiện hành vị phạm tội trong cùng một vụ án, hoặc nhận tội thay cho người khác để hưởng các chính sách của nhà nước…Do đó, trong vụ án hình sự có thể lời nhận tội của bị can, bị cáo hay có thể là lời thú nhận của bị can, bị cáo liệu có thể được coi là chứng cứ đáng tin cậy nhất hay không? Trường hợp này, phải căn cứ, tìm hiểu, phân tích, đối chiếu với nhiều nguồn chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách khoa học, logic và phải tìm hiểu động cơ, mục địch của bị can, bị cáo khai báo và nhận tội là như thế nào? Tại sao bị can, bị cáo lại nhận tội, để từ đó có thể đánh giá khách quan vụ án.

 

Cho đến nay, pháp luật không cấm việc ghi âm trong hoạt động lấy lời khai của bị can đang bị tạm giữ, nhưng để làm được việc này một cách hợp pháp thì điều tra viên cần phải tuân thể đúng các trình tự thủ tục được quy định tại khoản 2 Điều 132 BLTTHS năm 2003. Để làm được việc này không phải là dễ vì các căn cứ pháp luật chưa có một quy định cụ thể, chi tiết và hợp lý nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã bộc lộ nhiều thiếu sót, đã gây ghi ngờ đối với các tình tiết chứng cứ thu thập được; quá trình ghi âm, quay video lời khai nhận tội không được lập biên bản, không phát cho bị can, bị cáo xem lại…đã vi phạm pháp luật tố tụng hình sự trong qua trình lấy lời khai.

 

Có thể nói, nguồn chứng cứ là một công cụ, phương tiện hữu hiệu nhất để giải quyết một vụ án hình sự. Trong nhiều vụ án hình sự, có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được một số nguồn chứng cứ từ “băng ghi âm” lại đang dần bị bỏ qua do bản thân nó chưa có một quy định cụ thể chi tiết nào, để nó trở thành nguồn chứng cứ quan trọng giúp cho cơ quan tố tụng buộc tội bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Nên có một quy định cụ thể về nguồn chứng cứ bằng “ghi âm”, “ghi hình” hay không cũng là điều đáng quan tâm, đáng bàn luận. Quan điểm của cá nhân tác giả là cần thiết có qui định pháp luật cụ thể về nguồn chứng cứ bằng “ghi âm”, “ghi hình” trong Bộ luật Tố tụng hình sự của nước ta.

Theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 thì nguồn chứng cứ lại được quy định như sau:

“Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

…”.

Tại Điều 82 BLTTDS thì có thể thấy nguồn chứng cứ trong Luật Tố tụng dân sự chỉ được quy định trong 8 nguồn chính, ngoài 8 nguồn chứng cứ này Toà án không sử dụng thêm bất cứ nguồn chứng cứ nào khác để thu thập làm chứng cứ cho việc giải quyết các vụ việc dân sự. Nhưng với qui định về nguồn chứng cứ này, qua đó có thể thấy được nguồn chứng cứ trong Luật Tố tụng dân sự có mớ rộng hơn nguồn chứng cứ trong TTHS (nhất là nguồn chứng cứ thứ nhất “các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được”- khoản 1, Điều 82 BLTTDS năm 2005) chính từ quy định này cho thấy, nguồn chứng cứ do “ghi âm”, “thu hình” ít nhiều được ghi nhận làm căn cứ pháp lý để giải quyết cũng như xác định sự thật của vụ án, giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử một cách thuận lợi hơn. Đồng thời, cũng tại khoản 9 Điều 82 BLTTDS năm 2005 còn quy định: “Các nguồn khác mà pháp luật có qui định” điều này là rất cần thiết, đồng thời cũng cần được hiểu đây chính là một quy định dự phòng của pháp luật chứ không nên hiểu đây là một quy định mở để Toà án áp dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giúp cho việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, các qui định về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005 cũng có đề cập tới vấn đề không phải bất kỳ tài liệu, dữ liệu..nào cũng có thể được thu thập từ các nguồn chứng cứ cũng được đem vào làm chứng cứ trong vụ án. Mà tại khoản 2 Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 đã có quy định cụ thể về điều kiện để xác định nguồn chứng cứ của vụ án được quy định như sau: “Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới việc thu âm, thu hình đó”.


Như vậy, trong luật tố tụng dân sự cũng đã có sự ghi nhận về nguồn chứng cứ, chứng cứ bằng “ghi âm”, “ghi hình” hoặc có liên quan đến việc thu âm, ghi hình; đồng thời cũng đã có một quy định chặt chẽ về điều kiện để nguồn chứng cứ, về chứng cứ bằng ghi âm, ghi hình được thừa nhận, và trở thành chứng cứ hợp pháp tại phiêntoà khi nó đáp ứng đúng và đủ hai điều kiện được quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 83 của Bộ luật này. Có thể nói rằng đây là một quy định hợp lý và rất cần thiết để thừa nhận sự hợp pháp của chứng cứ có liên quan đến việc ghi âm, thu băng- ghi hình vì nguồn gốc hình thành và giám định cũng như môi trường tác động đối với nguồn chứng cứ này là rất phức tạp, nhất là trong điều kiện của Việt Nam hiện nay.

 

Khi nghiên cứu về nguồn chứng cứ, về chứng cứ có liên quan tới việc ghi âm, thu băng - thu hình trong pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tố tụng dân sự, thấy rằng: Pháp luật nước ta chưa có sự ghi nhận và đề cao, chú trọng tới “nguồn chứng cứ”, tới “chứng cứ” thu thập được có liên quan tới việc “ghi âm”, “thu băng, thu hình”; đồng thời cũng chưa có sự ghi nhận và đề cao vị trí vai trò cũng như tầm quan trọng của nguồn chứng cứ, và chứng cứ thu thập được trong quá trình ghi âm, thu băng - thu hình làm bằng chứng cho việc điều tra, truy tố, chứng minh và giải quyết vụ án hình sự.

 

Cho đến nay, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, vẫn chưa có một sự quy định cụ thể nào để ghi nhận về nguồn chứng cứ “ghi âm”. Cũng có nhiều nguyên nhân để lý giải và hiểu rõ điều này: có thể là do sự phức tạp của việc xác định làm rõ được “nguồn gốc” của các nguồn chứng cứ bằng “ghi âm”, hay là do giọng nói- âm thanh trong quá trình ghi âm không giống như giọng nói, của bị can, bị cáo, người thực hiện hành vi phạm tội trên thực tế, do có sự tác động của môi trường bên ngoài trong quá trình “ghi âm”; hay cũng có thể người thực hiện hành vi phạm tội, bị can, bị cáo, nhân chứng…lợi dụng sự phức tạp của nhiều âm điệu, giọng nói, …để “ghi âm” qua đó cung cấp đánh lạc hướng cơ quan điều tra, và các cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc cũng có thể một người thực hiện hành vi phạm tội có thể nói được rất nhiều chất giọng khác nhau nên việc nên nguồn chứng cứ bằng ghi âm nhiều khi rất khó giám định, và chứng minh làm rõ.

 

Hiện nay, có một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Hồng Kông… phần lớn trong quá trình tranh tụng tại toà, các nước này thường sử dụng hệ thống tố tụng hình sự về “tranh tụng” cho phép các bên đương sự được tham gia tranh tụng tại phiên toà, do các nước này có một đội ngũ luật sư rất phát triển, nghĩa là pháp luật tố tụng hình sự cho phép các bên của đương sự trong quá trình tranh tụng được cung cấp nhiều nguồn chứng cứ, nhiều chứng cứ để chứng minh là mình có tội hay không có tội trước toà, trong đó có nguồn chứng cứ bằng “ghi âm” cũng được ghi nhận và đề cao trước toà. Đối với một số nước phát triển mà sử dụng Luật tố tụng hình sự “tranh tụng” này thì nguồn chứng cứ “bằng ghi âm” cũng là một cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng để buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội trước toà. Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự nước ta theo hình thức “thẩm vấn” trước toà đối với các bên của đương sự, cũng như bị can, bị cáo và do những người tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Với qui định của luật tố tụng hình sự như của Việt Nam hiện nay, khi ra toà các cơ quan tiến hành tố tụng vừa “thẩm vấn” vừa cho phép việc “tranh luận” để làm rõ vấn đề của bị can, bị cáo với người bị hại hay người làm chứng, hoặc việc Hội đồng xét xử “thẩm vấn” bị can, bị cáo.

 

Bộ luật Tố tụng hình sự của nước ta hiện nay qui định: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ án (khoản 1 Điều 64 BLTTHS năm 2003).

 

Như vậy, có cần thiết hay không khi có một quy định bổ sung thêm chứng cứ trong luật tố tụng hình sự, mà nguồn chứng cứ này có nguồn gốc từ bản “ghi âm”, “ghi hình” do một số chủ thể thu thập được một cách hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục luật định?. Cũng xoay quanh vấn đề này, từ quy định của nguồn chứng cứ cho rằng: Nguồn chứng cứ chỉ là nơi chứa đựng chứng cứ, vì theo khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm 2003 thì chứng cứ được xác định bằng các nguồn sau: Vật chứng; Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Kết luận giám định; Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu đồ vật khác.

 

Tóm lại, nguồn chứng cứ bằng “ghi âm”, “ghi hình” là một nguồn chứng cứ có giá trị đặc biệt quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, đúng pháp luật và cần thiết đối với các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, cần có qui định cụ thể về vấn đề này và sớm có sự bổ sung, hướng dẫn thi hành vào các văn bản luật hiện hành để làm cơ sở pháp lý để giải quyết vụ án hình sự.

 

Nguyễn Đình Thắm

Giảng viên Khoa: Tội phạm học và Điều tra tội phạm
Phân hiệu trường Đào tạo,bồi dưỡng nghiệp vụ  Kiểm sát tại TP.HCM

 

Tài liệu tham khảo:

1 . Chứng cứ trong Luật tố tụng Hình sự Việt Nam, Th.s Nguyễn Văn Cừ, xuất bản năm 2005.

2. Một số vấn đề về chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam, TS. Nguyễn Văn Huyên, phó giám đốc Học Viện Tư Pháp.

3. Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2003.

4. Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2004.

5. Các bài viết trên các tập chí Viện kiểm sát, tập chí Toà án.

 

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao

 

Add comment


Security code
Refresh

Tin mới nhất